Trọng Sinh Làm Nàng Dâu Núi Sâu
Chương 1
Ngày tôi bị ép gả thay chị gái vào vùng núi sâu, cả nhà không một ai ra tiễn.
Chị gái mặc chiếc áo bông mới tinh — chiếc áo mà tôi đã nhịn ăn nhịn mặc, gom góp phiếu vải suốt ba năm mới đổi được — đứng nép sau cửa bếp, cười khẽ đầy đắc ý.
“Xuân Hòa, số cô cứng hơn tôi. Trong núi khổ cực như vậy, cô chịu được mà.”
Nhà trai đến đón dâu… chỉ có một con lừa què và một bà lão câ/m.
Tôi ngồi trên lưng lừa, quay đầu nhìn lại.
Mẹ tôi đứng trước cổng, vừa cắn hạt dưa vừa trò chuyện với hàng xóm, đến mí mắt cũng lười chẳng buồn nhấc lên nhìn tôi lấy một lần.
Người tôi phải gả cho tên là Cố Hoài An.
Một quân nhân đóng quân nơi biên giới xa xôi, đã năm năm chưa từng trở về.
Mẹ chồng nói, đời này có lẽ anh ta cũng sẽ chẳng về nữa.
“Coi như cô thủ tiết sống đi. Chăm chỉ trông nom mấy sào ruộng là được.”
Tôi không đáp.
Bởi vì kiếp trước, tôi đã thật sự làm như vậy.
Bao nhiêu lương thực, bao nhiêu điểm công tích vất vả kiếm được, tôi đều lặng lẽ gửi hết về nhà mẹ đẻ.
Kết cục… tôi ch đói trong chính ngọn núi sâu này.
Còn mẹ tôi thì cầm túi lương thực cuối cùng của tôi, mở tiệc cưới linh đình cho chị gái.
Người đàn ông năm năm chưa từng về nhà ấy…
Cuối cùng vẫn trở về.
Anh quỳ trước hai ngôi mộ suốt ba ngày ba đêm.
Sau đó phát đ.iên một thời gian.
Rồi biến mất khỏi thế gian, không ai biết anh đã đi đâu.
Sống lại thêm một đời.
Tôi siết chặt sợi dây cương buộc con lừa trong tay.
Lần này…
Đừng ai hòng lấy đi của tôi dù chỉ một hạt gạo.
Còn người đàn ông đã từng quỳ suốt ba ngày trước mộ tôi ấy—
Kiếp này, tôi sẽ không để anh trở về… mà không còn một ai chờ đợi.
1
Mùa đông năm 1963 lạnh đến mức khác thường.
Theo con lừa thọt lầm lũi vượt qua hai dãy núi, đến khi trời xẩm tối tôi mới nhìn thấy ngôi làng nhỏ nằm lọt giữa thung lũng.
Chỉ hơn hai mươi hộ dân thưa thớt. Những căn nhà đất thấp bé nép dưới chân núi, khói bếp bay lên mảnh như sợi chỉ, lững lờ trong gió lạnh.
Bà mẹ chồng câm đi phía trước. Đi được vài bước bà lại quay đầu ra hiệu cho tôi, ý nói đã tới nơi.
Bà họ Triệu, mẹ của Cố Hoài An.
Bốn năm trước bà mắc một trận bệnh nặng, cổ họng hỏng hẳn, từ đó không thể nói chuyện nữa.
Người trong làng đều gọi bà là bà câm nhà họ Triệu.
Nhà họ Cố nằm ở vị trí cao nhất cuối làng.
Ba gian nhà đất cũ kỹ. Hàng rào sập mất một nửa, chỉ được chắn tạm bằng vài bó củi khô.
Đẩy cửa bước vào, bếp lạnh tanh, lu nước cạn trơ đáy, trên giường kháng phủ đầy một lớp rơm rạ vàng úa.
Tôi mở bọc hành lý mang theo.
Chỉ có vài bộ quần áo thay giặt và nửa cân khoai lang khô.
Bà Triệu lặng lẽ thò tay sau bếp, lấy ra một bọc vải nhỏ. Bên trong là hai chiếc bánh bao bột ngô đen và vài quả táo khô héo quắt.
Bà nhét hết táo vào tay tôi, còn mình thì bẻ nửa chiếc bánh bao, vừa nhai vừa uống nước lạnh.
Tôi nhìn mấy quả táo trong lòng bàn tay, cổ họng nghẹn lại.
Kiếp trước bà cũng vậy.
Hễ có thứ gì tốt nhất đều để dành cho tôi.
Còn tôi thì sao?
Hết lần này đến lần khác gửi lương thực về nhà mẹ đẻ. Đến mùa đông năm thứ ba, bà nằm bất động trên giường kháng, thân thể nhẹ bẫng như một bó củi khô.
Tôi siết chặt mấy quả táo trong tay, một quả cũng không ăn.
“Mẹ, mấy quả táo này mẹ giữ đi. Sau này con sẽ tìm cách.”
Bà khựng lại.
Một lúc rất lâu sau bà mới đưa tay lau khóe mắt.
Có lẽ vì tiếng “mẹ” tôi vừa gọi.
Kiếp trước, ba tháng đầu sau khi bước vào nhà họ Cố, tôi chưa từng mở miệng gọi bà lấy một lần.
Đêm đó tôi không ngủ.
Tựa lưng vào thành giường kháng, tôi lần lượt nhớ lại từng chuyện của đời trước.
Mùa đông năm 63 tôi gả vào đây.
Mùa xuân năm 64 bắt đầu gửi lương thực về nhà mẹ đẻ.
Năm 65 bà Triệu bệnh nặng.
Năm 66 tuyết lớn phong tỏa núi rừng, lương thực cạn sạch.
Đầu xuân năm 67, tôi ch đói trên chiếc giường kháng này.
Bà Triệu đi trước tôi ba tháng.
Còn số lương thực tôi gửi về…
Mẹ tôi không giữ lại dù chỉ một hạt.
Tất cả đều chảy vào miệng gia đình chị gái.
Đời này, từng năm sẽ xảy ra chuyện gì tôi đều nhớ rõ.
Mùa thu năm 64 sẽ có một trận sương muối đến sớm, phần lớn hoa màu đều bị phá hỏng.
Mùa đông năm 66 sẽ có trận tuyết lớn hiếm gặp trong năm mươi năm, núi rừng bị phong tỏa suốt bốn mươi ngày.
Những thứ từng lấy mạng tôi ở kiếp trước…
Kiếp này đều là quân bài trong tay tôi.
Trước khi trời sáng, tôi đã đưa ra quyết định.
Việc đầu tiên.
Tích trữ lương thực.
2
Ngày thứ ba sau khi gả đến, tôi dọn dẹp lại nhà cửa trong ngoài một lượt.
Bức tường rào sập một nửa được tôi dùng đá nhặt trên núi xếp lại, các khe hở trát kín bằng bùn vàng.
Lò sưởi dưới giường kháng được dọn sạch tro, nhóm lửa lại, căn phòng cuối cùng cũng có hơi ấm.
Bà Triệu luôn ở bên cạnh đưa đồ phụ giúp. Ánh mắt bà từ kinh ngạc dần chuyển thành xót xa.
Bà nắm lấy tay áo tôi, ra hiệu đừng làm nữa, chỉ vào bếp rồi chỉ vào bản thân mình.
Tôi lắc đầu.
“Mẹ, mẹ nghỉ đi. Việc này để con làm.”
Nhưng trong đầu tôi lại không đặt nặng mấy việc đó.
Kiếp trước tôi chỉ biết cắm đầu làm lụng. Làm xong lại nghĩ cách gửi lương thực về nhà mẹ đẻ.
Chưa từng nghĩ tới…
Chính ngọn núi sâu này mới là một kho báu.
Sáng sớm ngày thứ tư, tôi mang thư giới thiệu của đội sản xuất đến trụ sở đại đội.
Người mở cửa là đại đội trưởng Lưu Mãn Thương, một người đàn ông mặt đen khoảng năm mươi tuổi.
Ông cầm lá thư của tôi đọc đi đọc lại ba lần.
“Cô là người gả cho Cố Hoài An?”
“Vâng.”
“Cô cũng biết nó đã mấy năm chưa về nhà rồi chứ.
Chuyện ngoài tiền tuyến, ai dám nói trước điều gì—”
“Đại đội trưởng, cháu muốn đăng ký tham gia lao động sản xuất, tính điểm công tích như xã viên chính thức.
Ngoài ra cháu muốn hỏi… mảnh đất hoang trên sườn núi sau làng có ai trồng không?”
Lưu Mãn Thương ngẩn ra.
“Mảnh đất dốc đó à? Toàn đá với đất mỏng, trồng hoa màu không sống nổi. Không ai muốn cả.”
“Cháu lấy.”
“Điểm công tích cháu vẫn làm đủ. Mảnh đất đó cháu tự khai khẩn thêm, không chiếm phần của đội sản xuất.
Cháu chỉ trồng ít đồ ăn… như vậy không phạm quy chứ ạ?”
Lưu Mãn Thương nhìn tôi từ đầu đến chân.
Có lẽ ông chưa từng thấy nàng dâu mới nào vừa gả tới đã mở miệng xin đất.
“Không phạm. Nếu cô có sức khai khẩn thì cứ làm.”
Bước ra khỏi trụ sở đại đội, lòng tôi đã yên tâm.
Mảnh đất hoang đó không trồng được lúa mì hay lúa mạch.
Nhưng trồng được khoai lang.
Khoai lang không kén đất, chịu hạn tốt, năng suất lại cao.
Quan trọng nhất là—
Trận sương muối mùa thu năm 64 có thể gi sạch ngô và cao lương.
Nhưng không làm ch được khoai lang nằm dưới lòng đất.
Kiếp trước cả làng ch đói suốt một mùa đông.
Kiếp này…
Sẽ không còn như vậy nữa.
3
Suốt cả mùa xuân, ban ngày tôi đi làm kiếm điểm công tích, chiều tối lại lên sườn núi khai hoang.
Mảnh đất đó đầy đá vụn. Mỗi nhát cuốc xuống chỉ đào được một hố nhỏ bằng bàn tay.
Những nốt phồng nước trên tay vỡ ra rồi lại mọc, mọc rồi lại vỡ, cuối cùng đóng thành lớp chai dày cứng.
Người trong làng thấy tôi ngày nào trời tối mịt vẫn còn đào đất trên núi, bắt đầu bàn tán.
“Nàng dâu mới nhà họ Cố chắc đầu óc có vấn đề rồi. Mảnh đất rách đó trồng được cái gì.”
“Cũng tội… chồng không ở nhà, một mình gồng gánh.”
Chỉ có một người không nói gì.
Cô ấy tên Vương Quế Hoa, một phụ nữ trung niên trong nhóm khai hoang. Khi làm việc thường lại gần chỗ tôi.
“Con bé này sức lực không tệ nhỉ.” Cô vừa vung cuốc vừa liếc nhìn tôi.
“Gả cho thằng lính nhà họ Cố à? Nghe nói mấy năm rồi chưa về… chẳng biết còn sống hay đã ch.”
“Còn sống.”
Tôi lật một tảng đất cứng.
“Anh ấy ở tiền tuyến bảo vệ đất nước, không ch được.”
“Khá lắm, có khí phách.”
Cô không nói thêm gì nữa.
Nhưng chiều hôm sau, cô vác cuốc xuất hiện trên mảnh đất của tôi.
“Rảnh cũng rảnh, giúp cô một tay.”
Tôi không khách sáo.
Từ đó trở đi, mỗi ngày Vương Quế Hoa đều giúp tôi làm thêm một tiếng.
Đến giữa tháng Năm, mảnh sườn núi hoang đó đã được chúng tôi khai khẩn gần hai mẫu đất.
Dây khoai lang giống là do tôi nài nỉ Lưu Mãn Thương suốt ba ngày mới xin được.
Ông chê tôi phí giống, tôi nói không dùng giống của đội, dùng điểm công tích của mình đổi.
Ông không cãi lại nổi, bực bội quăng cho tôi tờ giấy.
“Con bé này còn bướng hơn con lừa.”
Đêm gieo giống xong, tôi trở về nhà.
Trên bếp đã có sẵn một bát canh nóng.
Bà Triệu đứng bên cạnh, chỉ vào bát canh rồi chỉ vào tôi, ra hiệu tranh thủ lúc nóng mà uống.
Trong bát chỉ có vài lá rau dại và một miếng thịt muối nhỏ xíu, không biết bà đã dành dụm từ đâu.
Tôi bưng bát canh uống một ngụm.
Mặn chát.
Nhưng bụng lập tức ấm lên.
Bà nhìn tôi uống hết, nở nụ cười không thành tiếng.
Trong lòng tôi thầm nghĩ.
Đời này, dù thế nào đi nữa, tôi nhất định phải để người đối xử tốt với mình này sống đến ngày hưởng phúc.
Chỉ là lúc đó tôi chưa biết.
Bức thư của mẹ đẻ tôi… đã đang trên đường gửi tới.