Mời bạn CLICK vào liên kết bên dưới và
Mở Ứng Dụng Shopee để mở khóa toàn bộ chương truyện!
Hoa Vô Dương – Ngọc Tuyết Cung
Chương 7
Từ hôm nay, Thẩm Thanh Nguyệt và Tiêu Quyết không còn bất kỳ liên hệ nào. Sống không gặp lại, ch/ế/t cũng chẳng liên can. Kẻ nào trái lời, trời tru đất diệt.
Ta ký tên mình trước, rồi đẩy tờ giấy sang phía hắn.
“Vương gia, mời.”
Hắn nhìn tờ giấy ấy rất lâu, bỗng bật cười.
Tiếng cười ấy khô khốc, nghe còn đau hơn khóc.
“Thẩm Thanh Nguyệt… nàng thật sự không để lại cho ta một con đường nào.”
“Con đường?” ta nhìn hắn, ánh mắt không hề dao động. “Ngày ngươi nhốt ta vào nơi này, ngươi có từng nghĩ đến việc chừa cho ta nửa bước lui?”
Hắn bị ta hỏi đến câm lặng. Rốt cuộc, hắn cầm bút lên.
Lần này tay hắn không run.
Ổn định đến lạnh lùng, như một tảng đá rơi xuống vực sâu. Hắn ký tên mình.
Khế ước đã thành.
Giữa ta và hắn, sợi dây cuối cùng cũng bị chặt đứt.
Ta cầm hai phần văn thư, xoay người rời đi, không có lấy một chút luyến tiếc.
Khi ta đã bước tới cửa, phía sau bỗng vang lên giọng hắn, nhẹ đến mức gần như chỉ là một tiếng thở dài.
“Thẩm Thanh Nguyệt…”
“Nếu…” “Nếu chúng ta lại ch/ế/t thêm một lần nữa…” “Liệu còn có kiếp sau không?”
Ta không dừng bước.
Cũng không quay đầu.
Ta chỉ lạnh lùng để lại một câu. “Ta chỉ mong… không còn nữa.”
Không còn dây dưa. Không còn luân hồi. Không còn tái kiến.
Cánh cửa phía sau lưng ta khép lại thật mạnh, âm thanh nặng nề vang lên giữa hành lang trống trải, như một dấu chấm hết.
Trong khoảnh khắc ấy, ta biết, tiền thế và kim sinh giữa ta và hắn đã hoàn toàn bị cắt đứt.
17
Khi ta bước ra khỏi Lãm Nguyệt Hiên, trời đã tảng sáng. Không khí sớm mai còn vương chút lạnh, nhưng hít vào lại khiến lòng ta nhẹ hẳn.
Đó là mùi vị của tự do.
Hai tên thị vệ đứng ngoài cửa nhìn ta, ánh mắt phức tạp. Có kinh ngạc, có dè sợ, thậm chí còn thoáng qua một tia thương cảm mơ hồ. Nhưng không ai dám cản đường.
Hẳn Tiêu Quyết đã hạ lệnh.
Ta cứ thế đi thẳng, không gặp bất kỳ trở ngại nào, cho đến khi rời khỏi cổng cung.
Bên ngoài, một cỗ xe quen thuộc đang lặng lẽ chờ sẵn. Chung thúc đứng cạnh xe, thấy ta xuất hiện, gương mặt già nua thoáng chốc run lên vì xúc động. Ông vội vàng bước tới, cúi người thật sâu.
“Chủ gia…” Giọng ông nghẹn lại. “Ngài chịu khổ rồi.”
Ta khẽ lắc đầu. “Ta không sao. Để thúc lo lắng rồi.”
Ta nhìn cỗ xe, khẽ nói: “Lên xe thôi. Chúng ta về nhà.”
“Vâng.”
Chung thúc vén màn cho ta. Ta bước vào trong, mùi hương an thần quen thuộc lập tức bao lấy. Xuân Hòa đang ngồi đó, mắt đỏ hoe. Vừa thấy ta, nàng bật khóc thành tiếng.
“Tiểu thư! Người cuối cùng cũng ra rồi! Nô tỳ còn tưởng… còn tưởng sẽ không bao giờ được gặp lại người nữa!”
Ta đưa tay vỗ nhẹ lưng nàng, giọng dịu xuống.
“Ngốc. Ta đây không phải vẫn bình an sao?”
Cỗ xe chậm rãi lăn bánh.
Ta vén nhẹ một góc rèm, nhìn về phía sau. Tường cung nguy nga sừng sững trong ánh bình minh, lạnh lẽo mà trang nghiêm. Ở tòa giác lâu cao nhất, ta thoáng thấy một bóng người cô độc đứng đó.
Hắn mặc trường bào màu nguyệt bạch, tay áo lay động trong gió sớm.
Tựa như một kẻ sắp hóa tiên giữa nhân gian.
Nhưng ta biết, hắn không phải tiên.
Hắn chỉ là người bị nhốt trong chính địa ngục của mình.
Và lần này, ta không quay đầu lại nữa.
Hắn đứng nơi giác lâu cao nhất, trong gió sớm, trông như một linh hồn lạc lõng bị cả thế gian bỏ rơi.
Là Tiêu Quyết.
Ta ngước nhìn, ánh mắt chúng ta vượt qua khoảng cách xa vời ấy, lần cuối cùng chạm vào nhau. Không còn oán hận bùng cháy, cũng không còn dây dưa day dứt, chỉ là một thoáng lặng im như khói sương.
Rồi ta buông rèm xe xuống.
Không quay đầu lại nữa.
Kinh thành.
Tạm biệt.
Cùng lúc ấy, trong Nhiếp chính vương phủ, Liễu Như Yên phát cuồng, đập phá tất cả những gì có thể đập trong phòng.
“Hắn thả nàng ta rồi?”
“Hắn thật sự cứ thế mà để con tiện nhân ấy rời đi?”
Giọng nàng ta sắc nhọn, chói tai đến rợn người. Đám nha hoàn quỳ rạp dưới đất, run lẩy bẩy, không ai dám hé môi.
Cuối cùng, Liễu Như Yên ngã khuỵu xuống sàn, hai tay che mặt mà bật khóc nức nở. Nàng ta đã chờ đợi mười năm, tranh đấu mười năm, tính toán mưu lược suốt mười năm, vậy mà đến cuối cùng vẫn thua sạch.
Thua đến không còn đường lui.
Đến lúc này nàng ta mới hiểu, từ đầu đến cuối mình chưa từng thắng. Trong lòng Tiêu Quyết, chỉ có một Thẩm Thanh Nguyệt. Dù là yêu hay hận, tất cả đều chỉ xoay quanh ta.
Còn nàng ta, chẳng qua chỉ là một kẻ thay thế buồn cười, một ảo tưởng tự mình nuôi dưỡng suốt mười năm trời.
18
Xe ngựa một đường xuôi nam, dần rời khỏi phạm vi thế lực của kinh thành.
Bầu trời dường như cũng xanh hơn, cao hơn; trong không khí không còn mùi vị ngột ngạt của quyền lực và âm mưu, chỉ còn hương cỏ non cùng mùi đất ẩm dịu nhẹ.
Tâm trạng ta theo đó mà từng ngày sáng sủa hơn.
Ta bắt đầu ăn uống ngon miệng trở lại, đêm xuống cũng có thể ngủ một giấc yên ổn, không còn bị kéo vào giấc mộng của đêm tuyết lạnh lẽo, cũng không còn thấy gương mặt đau đớn tuyệt vọng của Tiêu Quyết.
Tất cả những chuyện cũ giống như một cơn ác mộng dài dằng dặc.
Giờ đây, mộng đã tỉnh.
Ta cũng nên bắt đầu lại.
Nửa tháng sau, chúng ta trở về Giang Nam, trở về Thanh Nguyệt Cư của ta. Nơi này vẫn như xưa, cầu nhỏ nước chảy, đình đài lầu các, là chốn thế ngoại đào nguyên do chính tay ta gây dựng, cũng là bến đỗ bình yên nhất của đời ta.
Ta cho giải tán phần lớn hạ nhân.
Ta chỉ giữ lại Xuân Hòa, Chung thúc cùng vài người tâm phúc thân cận nhất, còn lại đều cho giải tán.
Sau đó, ta đem toàn bộ văn thư về quyền chuyên doanh muối vận Giang Nam giao cho Chung thúc.
Ta nhìn ông, chậm rãi nói:
“Chung thúc, kể từ hôm nay, thúc chính là người đứng đầu muối vận Giang Nam.”
Chung thúc sững người, sắc mặt biến đổi liên hồi, rồi không nói hai lời liền quỳ sụp xuống trước mặt ta.
“Chủ gia, việc này vạn vạn không thể!”
“Cơ nghiệp này là do người dùng tính mạng đổi lấy, lão nô sao dám mơ tưởng!”
Ta vội bước tới, đỡ ông dậy.
“Chung thúc, thúc theo ta mười năm, danh nghĩa là thuộc hạ, nhưng trong lòng ta, thúc sớm đã là người thân.”
“Cơ nghiệp này giao cho thúc, ta mới thật sự yên tâm.”
Ta quay đầu nhìn ra mặt hồ ngoài cửa sổ, mặt nước phẳng lặng như gương, ánh chiều tà rải xuống một tầng ánh sáng dịu dàng. Giọng ta rất khẽ, nhưng lại vô cùng rõ ràng:
“Ta mệt rồi.”
“Thật sự mệt.”
“Mười năm qua, ta sống như một vị tướng quân luôn trong trạng thái chuẩn bị nghênh chiến, từng bước tính toán lòng người, từng đường mưu lược lợi ích. Ta có được tiền bạc, có được thế lực, nhưng đồng thời cũng đánh mất không ít thứ.”
Ta dừng lại một chút, rồi nói tiếp:
“Ta không muốn tiếp tục sống như vậy nữa. Ta muốn vì chính mình mà sống một lần.”
“Giống như một nữ tử Giang Nam bình thường, đọc sách, thưởng trà, ngắm hoa, an an tĩnh tĩnh mà đi hết quãng đời còn lại.”
Chung thúc nhìn ta, đôi mắt đã vẩn đục vì năm tháng nay đỏ hoe, nước mắt lăn dài không kìm được. Ông hiểu ta không phải nhất thời xúc động, càng hiểu để đi đến hôm nay, ta đã phải trả giá bao nhiêu.
Cuối cùng, ông quỳ xuống, dập đầu thật mạnh một cái.
“Lão nô tuân mệnh.”
“Chủ gia cứ an tâm, chỉ cần lão nô còn một hơi thở, nhất định sẽ thay người giữ vững cơ nghiệp này, bảo vệ người cả đời bình an.”
Ta bật cười.
Lần đầu tiên sau rất nhiều năm, ta cười từ tận đáy lòng.
Đêm ấy, ta mơ một giấc mộng rất dài.
Trong mộng không có Tiêu Quyết, không có Liễu Như Yên, không có kinh thành, không có lao lung. Chỉ có khói mưa Giang Nam lững lờ bay qua mái ngói, chỉ có ta đứng giữa màn sương mỏng ấy, yên tĩnh và nhẹ nhõm.
Trong mộng, ta nói với chính mình:
Thẩm Thanh Nguyệt.
Chào mừng ngươi trở về nhà.
Kiếp này.
Ngươi đã tự do rồi.
19
Mưa Giang Nam luôn triền miên như thế, mềm mại mà dai dẳng, tựa những sợi tơ mảnh không sao dứt nổi, từ trên trời buông xuống, quấn lấy mái hiên, rồi lặng lẽ thấm vào tận đáy lòng người.
Ta ở lại Thanh Nguyệt Cư.
Những ngày sau đó, trôi qua yên tĩnh đến mức còn lặng hơn cả màn mưa mỏng ngoài song cửa.
Ta không còn xem thương báo, không còn bận tâm giá vàng, giá gạo lên xuống ra sao.
Cuộc sống của ta, dường như chỉ còn lại ba việc giản đơn: đọc sách, uống trà và ngồi lặng nhìn mưa rơi.
Xuân Hòa nhìn ta, nhiều lần cười bảo ta đã thay đổi. Nàng nói, vị Thẩm chưởng quỹ sát phạt quyết đoán năm xưa dường như đã biến mất, thay vào đó là một kẻ nhàn tản, thảnh thơi đến mức có phần lười biếng.
Ta chỉ mỉm cười.
Như vậy chẳng phải rất tốt sao?
Đó vốn là cuộc sống ta dùng trọn mười năm đổi lấy.
Chung thúc thỉnh thoảng vẫn đến, báo cho ta vài chuyện vụn vặt trong thương hội. Ta chỉ lặng lẽ nghe, không hỏi thêm điều gì, cũng không đưa ra bất cứ quyết định nào. Những toan tính năm xưa, dường như đã theo ta rời khỏi kinh thành, chôn lại sau lớp tường cung lạnh lẽo ấy.
Cho đến một ngày, ông mang đến một tin tức từ kinh thành.
Ông nói, nơi đó loạn rồi.
Thậm chí còn loạn hơn lúc ta rời đi.
Giá gạo tuy đã bị triều đình cưỡng ép hạ xuống, nhưng nỗi hoảng loạn của dân chúng chưa từng tan.
Lần này không phải vì gạo, mà là vì muối. Trên thị trường, muối đột nhiên khan hiếm, quan muối gần như biến mất chỉ sau một đêm. Không ít bách tính vì thiếu muối mà sinh bệnh, triều đình vì thế rối ren như tơ vò.
Hoàng đế trên triều nổi trận lôi đình. Mà mọi mũi nhọn, cuối cùng đều chĩa về một người.
Tiêu Quyết.
Chuyện hắn giao lại quyền chuyên doanh muối vận không biết bị ai tiết lộ ra ngoài, khiến cả triều chấn động.
Ngôn quan dâng sớ liên tiếp, kẻ nói hắn lơ là chức trách, kẻ tố hắn tư thông bán nước, thậm chí có người công khai buộc tội hắn vì một nữ nhân mà đem xã tắc ra làm trò đùa.
Hoàng đế vốn đã sớm sinh lòng nghi kỵ với hắn, nay có cớ liền thu hồi toàn bộ quyền lực, phế bỏ tước vị Nhiếp Chính Vương, rồi lấy danh nghĩa “tĩnh dưỡng” mà giam lỏng hắn trong phủ.
Người từng một bước trên vạn người, quyền khuynh triều dã, chỉ trong chớp mắt đã trở thành trò cười lớn nhất kinh thành.
Chung thúc nói xong, khẽ ngẩng đầu nhìn ta, ánh mắt dè dặt, như muốn dò xét tâm ý. Tựa hồ muốn từ nét mặt ta tìm ra một chút dao động nào đó.
Nhưng ta chỉ lặng lẽ nghe, từ đầu đến cuối không hề thay đổi sắc mặt. Trong lòng cũng vậy, không gợn lên dù chỉ một làn sóng nhỏ.
Những điều ông vừa nói, vốn đã nằm trong dự liệu của ta từ trước; đó là kết cục ta đích thân trải đường cho hắn, từng bước một, không sai lệch.
Vì thế, ta không có nửa phần thương hại.
Cũng không có nửa phần khoái ý.
Tiêu Quyết giờ đây, với ta, chỉ là một người xa lạ đã từng quen biết. Vinh nhục, sống chết của hắn, đều không còn đủ sức chạm tới tâm can ta nữa.
“Ta biết rồi.” Ta nhàn nhạt lên tiếng. “Từ nay về sau, chuyện kinh thành không cần bẩm báo với ta nữa.”
Chung thúc như muốn nói thêm điều gì, nhưng cuối cùng vẫn chỉ khẽ gật đầu: “Vâng, chủ gia.”
Ông lui ra ngoài.
Trong phòng lại trở về tĩnh lặng, chỉ còn tiếng mưa lất phất ngoài hiên, rơi đều trên mái ngói.
Ta nâng chén trà lên, khẽ nhấp một ngụm. Nước đã nguội từ lâu, lạnh đến tận cổ họng, giống hệt trái tim ta — thứ đã sớm nguội tắt sau bao năm bão tố.
Ta từng nghĩ, giữa ta và hắn, mọi bụi trần của quá khứ đến đây đã hoàn toàn lắng xuống.
Từ nay, không còn dây dưa.
Không còn quay đầu.
20
Xuân Giang Nam luôn đến sớm hơn nơi khác. Chỉ cần mưa xuân vừa dứt, sắc xanh đã như bừng tỉnh, tràn khắp vườn tược, không sao kìm nổi.
Liễu rủ đâm chồi non mướt.
Đào nở rực cả cành.
Thanh Nguyệt Cư trong ánh xuân ấy đẹp như một bức họa thủy mặc, vừa dịu dàng vừa trong trẻo.
Ta bắt đầu bước ra khỏi gian phòng vốn đã quen thuộc, thong thả tản bộ trong vườn, hoặc đôi khi chống một chiếc thuyền nhỏ, một mình xuôi theo mặt hồ phẳng lặng giữa trang viên. Cuộc sống an nhàn đến mức khiến người ta sinh ra ảo giác, như thể hai kiếp khổ đau và tranh đấu kia chỉ là một giấc mộng xa xôi, chưa từng thực sự tồn tại.
Hôm ấy, Xuân Hòa theo ta dạo bên hồ. Nàng bỗng dừng bước, chỉ sang bờ đối diện.
“Tiểu thư, người nhìn kìa,” nàng khẽ nói, “bên kia từ khi nào lại có thêm một quầy vẽ?”
Ta theo hướng tay nàng nhìn sang.
Quả nhiên, dưới gốc liễu rủ bên bờ hồ đối diện, không biết từ lúc nào đã xuất hiện một chiếc sạp nhỏ. Sau sạp là một nam nhân mặc áo vải thô giản dị, cúi đầu lặng lẽ vẽ tranh, dáng vẻ bình thản như thể chưa từng bị thế gian làm phiền.
Ta khẽ nheo mắt.
Trong khoảnh khắc ấy, gió xuân chợt thổi mạnh hơn một chút.
Mặt hồ khẽ dậy sóng.
Thân hình hắn có phần gầy gò, dáng lưng nhìn từ xa mang theo chút tiêu điều, giống hệt một thư sinh thất chí phải lưu lạc phương Nam kiếm sống bằng vài bức họa ven hồ.
Ta không để tâm.
Giang Nam vốn nhiều tài tử, những người dựa vào bút mực để mưu sinh như thế này ở đâu cũng có.
Một kẻ bán tranh ven bờ nước, với ta mà nói, chỉ là một bóng hình quá đỗi bình thường giữa muôn vàn người qua lại.
Thế nhưng những ngày sau đó, quầy vẽ ấy vẫn luôn ở đó.
Người họa sư kia cũng vẫn ngồi nguyên chỗ cũ.
Có lẽ việc buôn bán không được khá lắm, bởi rất ít người dừng chân trước sạp của hắn. Hắn cũng chẳng rao bán, không chào mời, chỉ lặng lẽ ngồi đó ngày này qua ngày khác, cúi đầu vẽ.
Vẽ hồ nước. Vẽ hàng liễu. Vẽ mây trời lững lờ trên đỉnh đầu.
Sự trầm mặc ấy khiến Xuân Hòa sinh lòng thương hại. Nàng khẽ nói với ta: “Tiểu thư, vị họa sư kia trông thật đáng thương, cả ngày chẳng bán được nổi một bức tranh. Hay chúng ta qua mua giúp hắn một bức?”
Ta lắc đầu.
“Không cần.”
Chính ta cũng không rõ vì sao, nhưng trong lòng luôn có một cảm giác bất an mơ hồ, như có điều gì đó không đúng.
Hắn ở rất xa, ta không nhìn rõ mặt, vậy mà mỗi lần ánh mắt lướt qua bóng lưng gầy gò ấy, trong tim lại dấy lên một cảm giác quen thuộc khó gọi thành tên.
Cảm giác ấy giống như một mũi kim nhỏ, không đủ đ /au để khiến người ta bật khóc, nhưng lại đủ sâu để không thể làm ngơ.
Từ đó, ta bắt đầu tránh khu hồ, không còn tản bộ về hướng ấy nữa.
Thế rồi chỉ vài ngày sau, quầy vẽ biến mất. Người họa sư cũng không còn thấy bóng.
Tựa như hắn chưa từng xuất hiện ở nơi này.
Xuân Hòa lấy làm lạ, khẽ thắc mắc: “Sao vị họa sư kia đi nhanh thế?”
Còn ta thì thầm thở phào trong lòng.
Có lẽ là ta nghĩ nhiều rồi. Hắn chỉ là một trong vô số khách qua đường của Giang Nam, vô tình lướt ngang cuộc đời ta, rồi lại lặng lẽ rời đi, không để lại dấu vết.
Chỉ vậy thôi.
Cuộc sống lại trở về nhịp điệu yên bình vốn có.
Cho đến nửa tháng sau, Chung thúc lại đến.
Lần này, sắc mặt ông vô cùng nghiêm trọng.
Ông nói với ta một chuyện khiến cả căn phòng như chợt lạnh đi —Tiêu Quyết đã biến mất khỏi kinh thành.
Sống không thấy người. Ch/ết không thấy x/ác.
Giống như bốc hơi khỏi nhân gian vậy.
Bàn tay ta siết chặt lấy chén trà đến mức khớp ngón trắng bệch, nước trà nóng sánh tràn ra ngoài, hắt lên mu bàn tay, bỏng rát.
Thế nhưng ta lại không cảm thấy đ /au, bởi trong đầu đã hoàn toàn bị một ý nghĩ khác chiếm cứ.
Bóng lưng bên hồ hôm ấy bất chợt hiện lên rõ ràng trước mắt ta — thân hình gầy gò, dáng đứng cô tịch, như mang theo cả một nỗi tiêu điều khó nói.
Không thể nào. Nhất định không thể.
Hắn ở kinh thành còn có vương phi, có con trai, có tất cả những thứ hắn chưa từng buông bỏ. Hắn sao có thể đến Giang Nam? Lại càng không thể nào trở thành một kẻ bán tranh nghèo túng ven hồ.
Ta tự nhủ hết lần này đến lần khác, cố ép bản thân tin rằng tất cả chỉ là trùng hợp.
Thế nhưng cảm giác bất an kia lại như dây leo âm thầm sinh trưởng, từng chút một quấn chặt lấy tim ta, siết đến mức khiến ta gần như không thở nổi.
Từ hôm đó, ta bắt đầu mất ngủ.
Đêm này qua đêm khác, ta nằm trằn trọc, chỉ cần nhắm mắt lại là bóng lưng họa sư và gương mặt của Tiêu Quyết chồng lên nhau trong đầu, lúc rõ lúc mờ, luân phiên xuất hiện, giày vò ta đến kiệt sức.
Xuân Hòa thấy ta ngày một tiều tụy thì vô cùng lo lắng, vội mời đại phu giỏi nhất Giang Nam đến bắt mạch. Đại phu chỉ bảo ta lo nghĩ quá độ, tâm hỏa uất kết, kê cho mấy thang thuốc an thần. Thuốc uống vào lại chẳng có chút tác dụng nào.
Ta biết rõ, bệnh của ta không ở thân thể, mà ở trong lòng.
Người họa sư ấy giống như một mũi gai đã đ /âm vào tim ta, nếu không tự tay nhổ nó ra, ta vĩnh viễn không thể yên ổn.
Cuối cùng, vào một buổi sớm, ta không nói với bất kỳ ai, một mình lặng lẽ rời khỏi Thanh Nguyệt Cư, đi thẳng đến bờ hồ nơi từng đặt quầy vẽ.
Dưới tán liễu rủ chỉ còn khoảng đất trống, không có sạp tranh, cũng chẳng có bóng người; chỉ có tiếng gió lùa qua cành liễu xào xạc, lạnh lẽo mà trống trải.
Ta men theo bờ nước, bước đi vô định. Trong lòng vừa trống rỗng, vừa dấy lên một cảm giác mâu thuẫn khó gọi tên — có chút mất mát, lại có chút nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng.